Lực lượng An ninh tỉnh Trà Vinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968
Cập nhật ngày: 3-01-2018
 
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trà Vinh là chiến trường đồng bằng duyên hải, có sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền) và sông Hậu bao bọc, đây là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch.
 
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trà Vinh là chiến trường đồng bằng duyên hải, có sông Cổ Chiên (một nhánh của sông Tiền) và sông Hậu bao bọc, đây là địa bàn tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch. Về địa giới hành chính, phía chính quyền cách mạng xác định Trà Vinh là một tỉnh; về phía chính quyền Sài Gòn từ năm 1957 đến năm 1975, Trà Vinh được gọi là tỉnh Vĩnh Bình, trực thuộc Khu chiến thuật 41, Vùng chiến thuật 4. Tiểu khu Vĩnh Bình gồm 07 chi khu: Châu Thành, Càng Long, Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Long Toàn. Tỉnh Vĩnh Bình có sở lỵ là Phú Vinh (nay là thành phố Trà Vinh). Toàn tỉnh được phân chia thành 07 quận (tương đương với 07 chi khu nói trên), với 52 xã, trên 400 ấp. Cũng như những tỉnh, thành khác của miền Nam, Xuân Mậu Thân 1968, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Trà Vinh, trong đó có lực lượng An ninh (nay là lực lượng Công an) đã giáng cho địch một đòn chí mạng, bất ngờ bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trong toàn tỉnh. Đây là sự kiện đánh dấu bước ngoặt trong 21 năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là tiền đề đi đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng quê hương, thống nhất đất nước.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết năm 1954, nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Miền Bắc bước vào thời kỳ đầu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, trở thành hậu phương vững chắc cho cách mạng miền Nam. Miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên thống nhất đất nước. Lợi dụng thời cơ Pháp thua trận, đế quốc Mỹ thực hiện ý đồ phá hoại Hiệp định Giơnevơ thay Pháp độc chiếm miền Nam Việt Nam. Xác định Trà Vinh là một trong những tỉnh có địa bàn chiến lược quan trọng, nhiều dân tộc và tôn giáo nên Mỹ và bè lũ tay sai tìm mọi cách bình định, lấn chiếm mở rộng vùng Tây Nam bộ. Từ đó, địch ra sức tuyên truyền, lừa mị, kích động hằn thù và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Kinh - Khmer - Hoa, hòng tách dân ra khỏi Đảng để tiêu diệt phong trào cách mạng. Trong khi đó, ta chấp hành nghiêm chỉnh theo chủ trương của Đảng và tinh thần của Hiệp định, tập kết chuyển quân; đồng thời tìm điểm chôn giấu vũ khí, đề phòng kẻ thù lật lộng thì sẵn có vũ khí để xây dựng lực lượng sau này; thanh toán hồ sơ, tài liệu, sắp xếp lại cán bộ “ai ở, ai đi” cho phù hợp. Một số cán bộ trong đó có lực lượng Công an được bố trí vào các giáo phái, cài vào bộ máy chính quyền Sài Gòn để nắm tổ chức địch, cung cấp tin tức cho Đảng chỉ đạo. Số còn lại hòa mình trong dân, thực hiện khẩu hiệu: “Cùng ở, cùng ăn, cùng lao động sản xuất”, cùng với Nhân dân đấu tranh đòi hiệp thương, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ.
Trước sự ngang ngược, tàn bạo và phát xít cao độ của chính quyền Ngô Đình Diệm, Nhân dân Trà Vinh dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề nổi dậy tiến hành Đồng Khởi năm 1960. Một mảng lớn hệ thống kềm kẹp của địch bị phá vỡ, nhiều tên tề điệp, ác ôn bị trừng trị thích đáng, vùng giải phóng được mở rộng, Nhân dân phấn khởi trở về quê cũ làm ăn, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Đồng Khởi đã chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tấn công địch đồng loạt, liên tục, rộng khắp, đẩy địch vào thế bị động để đối phó với ta.
Trước sự phát triển của phong trào cách mạng, yêu cầu phải có một lực lượng để tham mưu cho Đảng và làm nòng cốt cho phong trào quần chúng đấu tranh làm thất bại âm mưu và thủ đoạn hoạt động tình báo, gián điệp của địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng và bảo vệ Nhân dân. Chấp hành Chỉ thị số 01 ngày 14/6/1961 của Xứ ủy, Ban An ninh tỉnh Trà Vinh được thành lập ở ấp Giồng Giếng, xã Trường Long Hòa, huyện Duyên Hải (nay là xã Dân Thành, huyện Duyên Hải), với 30 đồng chí, đồng chí Hồ Nam (Năm Đạt) - Tỉnh ủy viên, Bí thư huyện ủy Cầu Kè được cử làm Trưởng ban.

Lực lượng An ninh Trà Vinh trên đường hành quân
 trong trận Xuân Mậu Thân năm 1968.
Ngược dòng lịch sử 50 năm về trước, vào cuối năm 1967 từ sự thay đổi nhanh chóng của cục diện chiến trường sau 02 năm tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ - ngụy và sự phát triển của phong trào cách mạng miền Nam. Tháng 01/1968, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 khóa III quyết định chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt trong Xuân Mậu Thân nhằm gián một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của Mỹ.
Chấp hành Nghị quyết của Trung ương về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Khu ủy Khu IX nhận định: Ngoài hai thị xã Cần Thơ và Vĩnh Long là trọng điểm, thì thị xã Trà Vinh cũng trở thành mục tiêu rất quan trọng có thể chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công. Đảng bộ Trà Vinh đã tiến hành đợt sinh hoạt chính trị nội bộ trong cán bộ, đảng viên nhằm quán triệt Nghị quyết của cấp trên. Đồng thời ra sức chuẩn bị mọi mặt bước vào cuộc chiến đấu mới, giành thắng lợi cuối cùng.
Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy Trà Vinh, Ban An ninh tỉnh mở nhiều đợt tập huấn cấp tốc cho các lực lượng để quán triệt tình hình địch và ta, nắm chắc Nghị quyết của An ninh để hành động. Đồng thời, huấn luyện đặc công, võ thuật, sửa chữa vũ khí,… để đánh địch. Song song đó, đẩy mạnh công tác điệp báo và bảo vệ chính trị, khẩn trương nắm tình hình địch, tiến hành chọn dân công, làm trong sạch địa bàn từ nơi vận chuyển đến nơi tập trung và giữ bí mật để phục vụ cho quân đội tập kích vào thị xã. Đêm ngày 30/01/1968, lực lượng An ninh tỉnh, An ninh thị xã phối hợp với lực lượng quân sự, binh vận ém quân vào thị xã Trà Vinh theo hai hướng Đông Bắc và Đông Nam gồm các mũi:
- Mũi thứ nhất: phối hợp với Tiểu đoàn 501 và Đại đội 509 đảm nhiệm đánh chiếm khu vực cảnh sát dã chiến, sau đó phát triển chiếm Dinh Tỉnh trưởng.
- Mũi thứ hai: phối hợp với Đại đội 67 và Đại đội biệt động phụ trách đánh chiếm khu vực ngân hàng, rạp hát.
- Mũi thứ ba: phối hợp với Đại đội 513 đặc công đánh hậu cứ Trung đoàn 14 (Sư đoàn 9 Ngụy), cùng với Đại đội 513 và 517 dùng súng cối khống chế tàu, sân bay.
Vì lực lượng An ninh lúc này còn ít lại thêm nhiều công tác, tuy nhiên ở từng mũi tấn công vũ trang cũng bố trí một vài đồng chí tham gia truy quét địch. Cùng với các mũi của lực lượng quân sự, các đồng chí này được phân công làm trinh sát nắm liên hệ với các cơ sở làm trong sạch địa bàn khi tập kết quân và giữ bí mật để phục vụ cho quân đội tập kích vào thị xã. Đồng thời tiếp cận các mục tiêu của địch nhằm phục vụ cho công tác an ninh sau này.
Đúng 00 giờ ngày 31/01/1968, quân và dân Trà Vinh cùng với chiến trường chung đã nhất tề tấn công vào thị xã. Sau 05 giờ chiến đấu giằng co với địch. Đến 09 giờ sáng ngày 01/02/1968, địch phản kích dữ dội, chúng dùng máy bay kết hợp với xe M113 và bộ binh chiếm lại các vị trí đã mất. Do lực lượng địch đông hơn ta gấp bội, buộc ta phải lui về Tri Tân B phòng ngự. Đến 10 giờ ngày 01/02/1968, Tỉnh ủy quyết định mở đợt tấn công tiếp theo, nhưng không tấn công vào thị xã mà quay lại đóng trụ vùng ven, đánh chi khu, đánh đồn bót mở rộng giải phóng nông thôn. Đồng thời chỉ đạo lực lượng An ninh nằm lại thị xã, dựa vào dân để tiếp tục nắm tình hình địch, theo dõi những cơ sở bị lộ, phát triển cơ sở mới, nắm tin tức, vận động và bảo vệ quần chúng đấu tranh chính trị, để phục vụ tốt cho đợt tấn công tiếp theo.
Cùng với khí thế tiến công sôi sục Xuân Mậu Thân, ở thị xã Trà Vinh, An ninh các địa phương trong tỉnh cũng nhất tề nổi dậy diệt ác, phá kềm, bao vây bức rút đồn bót, nơi nào cũng lập thành tích tiêu biểu lấy vũ khí diệt địch, cụ thể là ở các huyện Châu Thành, Tiểu Cần, Duyên Hải, Trà Cú đã gỡ 65 đồn bót, thu trên 1.000 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh; Vùng giải phóng được mở rộng.
Bằng ba mũi giáp công, qua 45 ngày chiến đấu lực lượng An ninh Trà Vinh cùng với các lực lượng khác đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4.500 tên địch (trong đó có 300 tên trung đoàn 14 thuộc sư đoàn 9 ngụy), diệt 217 tên và bắt sống 413 tên, phá rã 121 ban tề xã, ấp thu 50 súng các loại. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ở Trà Vinh có 17.000 lượt quần chúng tham gia tiến công vào 07 Chi khu, bao vây 320/522 đồn bót, bứt rút và tiêu diệt 204 đồn. Riêng lực lượng An ninh đã bắt được nhiều tên tề điệp, dân vệ và cảnh sát tiến hành khai thác tại chỗ phục vụ tin tức kịp thời để đánh địch. Đồng thời làm tốt công tác dọn dẹp địa bàn, bảo vệ tốt cho lực lượng vũ trang rút an toàn và tiến đánh giải phóng đồn Sóc Ruộng, đưa quân báo vùng ven để đấu tranh chống địch quay trở lại.

Chiến sĩ An ninh Trà Vinh cắm cờ giải phóng ở Mỹ Long - Cầu Ngang
 trong trận Xuân Mậu Thân năm 1968.
 
Tuy nhiên, cuộc tiến tiến công và nổi dậy diễn ra trong điều kiện không tương quan lực lượng, địch còn rất mạnh, do đó đã gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất. Lực lượng An ninh tỉnh Trà Vinh, nhất là An ninh ở cấp cơ sở bung ra hoạt động vũ trang công khai giành chính quyền nên bị địch phát hiện và bị lùng sục rất gắt gao, nhiều cơ sở cách mạng của ta bị tổn thất nghiêm trọng, có nơi phải mất một thời gian dài mới khôi phục lại được.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 trong tỉnh Trà Vinh tuy không giành được thắng lợi trọn vẹn nhưng đã giáng cho địch đòn bất ngờ, làm tiêu hao sinh lực địch, góp phần cùng với quân dân miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ và bè lũ tay sai, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngừng ném bom phá hoại miền Bắc.
Với những thành tích đã đạt được, quân và dân Trà Vinh được Đảng tuyên dương tám chữ vàng: “Toàn dân nổi dậy, đoàn kết lập công” và tặng “Huân chương Thành đồng Tổ quốc”. Khí thế Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt mạnh mẽ ở Trà Vinh trong dịp Xuân Mậu Thân năm 1968 khẳng định vai trò và sự trưởng thành về nhiều mặt của lực lượng An ninh tỉnh Trà Vinh.
Có được độc lập, tự do như ngày hôm nay, lực lượng An ninh Trà Vinh luôn luôn trân trọng và nhớ ơn quý Mẹ Việt Nam anh hùng, các anh hùng, gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình có công với cách mạng, biết ơn đồng chí, đồng đội trên khắp mọi miền của Tổ quốc, các lực lượng vũ trang của Khu, Miền đã chi viện và đặc biệt là sự đùm bọc, chở che, giúp đỡ, hỗ trợ của quần chúng nhân dân để Ban An ninh Trà Vinh cùng với các lực lượng cách mạng khác góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.
Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, nhưng lịch sử vẻ vang và truyền thống hào hùng của lực lượng An ninh tỉnh Trà Vinh là những mốc son mãi mãi sáng ngời theo chiều dài lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, lực lượng An ninh Trà Vinh (nay là Công an tỉnh Trà Vinh) đã làm nên những bản anh hùng ca bất tận; cùng với Đảng bộ và Nhân dân Trà Vinh; cán bộ, chiến sĩ Công an Trà Vinh hôm nay nguyện quyết tâm giữ vững và phát huy thành quả truyền thống cách mạng của các thế hệ cha anh đi trước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong giai đoạn mới./.
                                             Lê Chí Cường