CÔNG AN TRA VINH
CUỘC THI TÌM HIỂU 75 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM, 15 NĂM NGÀY HỘI TOÀN DÂN BẢO VỆ AN NINH TỔ QUỐC (P1)
Cập nhật ngày: 9-07-2020 | 13:28:26 GMT +7
Gợi ý đáp án (câu 1 - câu 3)
Câu 1. Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam được xác định là ngày, tháng, năm nào? Ý nghĩa của việc xác định Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam?
Gợi ý đáp án:
Từ  ngày 13/8  đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào. Hội nghị nhận định cơ hội cho nhân dân ta giành quyền độc lập đã tới, những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi, Đảng chủ trương lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương. Để thống nhất lãnh đạo Tổng khởi nghĩa, Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách; đề ra đường lối đối nội và đối ngoại trong tình hình mới. Đêm 13/08/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 cho Đồng bào và chiến sỹ cả nước nhanh chóng vùng dậy giành quyền độc lập.
Ngày 16/8/1945 cũng tại Tân Trào, Đại hội quốc dân họp, nhiệt liệt tán thành chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng và thông qua Mười chính sách của Việt Minh và Quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngay sau Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
Ngày 19/8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi ở Hà Nội, lực lượng CAND Việt Nam ra đời. Ở Bắc Bộ thành lập Sở Liêm phóng, Trung Bộ lập Sở Trinh sát, Nam Bộ lập Quốc gia tự vệ cuộc. Tuy tên gọi ở 03 miền khác nhau, nhưng các tổ chức đầu tiên của Công an nhân dân đều có chung nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng và tài sản của Nhân dân. Ngày 19/8/1945 được xác định là Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam.
Ngày 12/12/2005, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 30/2005/L-CTN công bố Luật Công an nhân dân, trong đó quy định: “Ngày 19 tháng 8 hàng năm là Ngày truyền thống của Công an nhân dân và là ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” (Trước đó, ngày 13/6/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 521/QĐ-TTg, Quy định ngày 19 tháng 8 hàng năm là Ngày hội “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”).
Việc xác định ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân có ý nghĩa to lớn như sau:         
Thứ nhất, Ngày truyền thống lực lượng Công an nhân dân mang ý nghĩa chính trị, tư tưởng sâu sắc, đó là một mốc son lịch sử đánh dấu sự ra đời, trưởng thành ngày càng vững mạnh của một trong những lực lượng vũ trang cách mạng nòng cốt, quan trọng của Đảng, Nhà nước, đảm bảo sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Thứ hai, đây là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với những đóng góp to lớn của lực lượng công an nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, trải qua 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành lực lượng Công an nhân dân đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đặc biệt đã phá tan mọi âm mưu đen tối của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa tại nước ta.
Thứ ba, việc xác định ngày truyền thống của lực lượng Công an nhân dân có ý ngĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống cách mạng, ý chí kiên cường, vượt qua gian khổ cho cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng Công an nhân dân, để qua đó góp phần tăng cường, củng cố vững chắc niềm tin, lòng trung thành của lực lượng Công an nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Những hoạt động như vậy nhằm động viên cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao cảnh giác, ra sức rèn luyện bản lĩnh chính trị và trình độ nghiệp vụ, không ngại gian khổ, vượt qua khó khăn, trong mọi hoàn cảnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Thứ tư, hàng năm thông qua tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống Công an nhân dân, Công an các đơn vị, địa phương đánh giá, tổng kết những thành tựu đã đạt được và chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong công cuộc bảo vệ an ninh tổ quốc và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, rút kinh nghiệm để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Câu 2: Hãy nêu những chiến công tiêu biểu ở mỗi thời kỳ cách mạng của lực lượng Công an nhân dân trong 75 năm qua. Những danh hiệu, phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước dành tặng cho lực lượng Công an nhân dân?
          Gợi ý đáp án:
1. Những chiến công tiêu biểu ở mỗi thời kỳ cách mạng của lực lượng Công an nhân dân
1.1. Công an nhân dân Việt Nam ra đời, đấu tranh bảo vệ chính quyền Cách mạng và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954)
Thời kì 1945-1946, lực lượng Công an nhân dân nắm vững nguyên tắc, sách lược của Đảng, đã mưu trí và khôn khéo đấu tranh chống bọn phản cách mạng, kịp thời ngăn chặn và trấn áp nhiều vụ ám sát chính trị, tiến công, bóc gỡ nhiều tổ chức, cơ sở phản động tại các địa phương trên cả nước. Đặc biệt, ngày 12/7/1946, Nha Công an Trung ương đã chỉ đạo trinh sát và công an xung phong bí mật, bất ngờ đột nhập vào trụ sở 132 Đuyvinhô (nay là phố Bùi Thị Xuân) bắt bọn phản động, thu được nhiều tài liệu, chứng cứ, kịp thời khám phá thành công vụ án ở nhà số 7, phố Ôn Như Hầu ở Hà Nội (nay là phố Nguyễn Gia Thiều), vây quét 40 trụ sở của Quốc dân đảng ở Hà Nội, bắt gần 100 tên phản động, trong đó có những tên đầu xỏ như Phan Kích Nam, Nghiêm Kế Tổ, đập tan âm mưu và hoạt động của thực dân Pháp câu kết với bọn phản động tay sai địch làm đảo chính hòng lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng Công an luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, mưu trí, dũng cảm chiến đấu, lập nhiều chiến công thầm lặng nhưng vô cùng oanh liệt, đấu tranh làm thất bại mọi hoạt động gián điệp, do thám của thực dân Pháp xâm lược; đập tan âm mưu hoạt động đảo chính, lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân của các thế lực tay sai phản động; bảo vệ tuyệt đối an toàn khu căn cứ địa cách mạng và các cơ quan đầu não của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân; đấu tranh bài trừ lưu manh, trộm cướp, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản và cuộc sống của nhân dân. Chiến công diệt tên Trương Đình Chi – Chủ tịch Hội đồng an dân Bắc Việt (10/10/1947); diệt đối tượng Bazin, Phó Giám đốc Sở mật thám liên bang Đông Dương (28/4/1950); chiến công đánh đắm Thông báo hạm A-mi-ô-đanh-vin (Amyot d’Invill) diệt gần 200 sỹ quan và binh lính Pháp ở vùng biển Sầm Sơn, Thanh Hoá (7/1950); gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Bùi Thị Cúc, chiến sỹ Công an tỉnh Hưng Yên (5/1950); gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Nguyễn Thị Lợi (tổ điệp báo A13); gương chiến đấu hy sinh của đồng chí Võ Thị Sáu – đội viên Công an xung phong Quận Đất Đỏ, Bà Rịa (01/1952); lực lượng CAND bảo vệ các cứ điểm quân sự lớn, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm nên chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ngồi lại với ta ở bàn Hội nghị ký hiệp định Giơnevơ (7/1954), đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang trang mới... Đó là những bằng chứng đánh dấu bước trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam và sự thất bại thảm hại của các cơ quan tình báo gián điệp Pháp cùng bọn phản động tay sai.
1.2. Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ miền Bắc XHCN, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (1954-1975)
Trong giai đoạn này, lực lượng Công an nhân dân ở miền Bắc đã triển khai các mặt công tác đảm bảo an ninh trật tự cho cách mạng; chống địch cưỡng ép di cư, bảo vệ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật do địch để lại; bóc gỡ mạng lưới gián điệp Mỹ - Pháp cài lại; tiêu diệt và làm tan rã hàng nghìn tên phỉ, kịp thời dập tắt các vụ bạo loạn ở miền núi; bắt gọn hàng trăm toán, hàng ngàn tên gián điệp biệt kích của Mỹ ngụy tung ra; trấn áp kịp thời các vụ nhen nhóm tổ chức phản động, đập tan cái gọi là "chống cộng sản trong lòng cộng sản" của địch.
Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Công an nhân dân đã sát cánh cùng các lực lượng khác chiến đấu đánh trả máy bay địch, bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, các đoàn khách quốc tế, bảo vệ tính mạng tài sản của Nhân dân, của các cơ quan, xí nghiệp; bảo vệ kho tàng quân sự; đấu tranh chống tình báo gián điệp hoạt động theo phương thức ẩn nấp P86, T72; xây dựng, hướng dẫn, phát động phong trào quần chúng sâu rộng bảo vệ ANTQ, cùng các lực lượng vũ trang khác bảo vệ vững chắc vùng giới tuyến, bờ biển, hải đảo; bảo vệ vững chắc an ninh chính trị, giữ gìn trật tự xã hội trong suốt thời lỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vv... Tiêu biểu như các chiến công: giải quyết vụ phỉ gây bạo loạn ở Ba Làng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa; trấn áp đối tượng phản động gây bạo loạn ở Quỳnh Yên, Quỳnh Lưu, Nghệ An (1955); diệt tên Trần Văn Văn ngày 07/12/1966 của An ninh T4; chuyên án BK63 (1961); tiễu phỉ ở Đồng Văn; cứu kho xăng Đức Giang; dập tắt các vụ bạo loạn ở Bùi Chu (Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình)…
Ở miền Nam, lực lượng An ninh nhân dân cùng các lực lượng khác liên tục tiến công và nổi dậy diệt ác trừ gian, đập tan các chương trình, kế hoạch tình báo gián điệp, cơ sở đặc biệt và hoạt động chống phá của các loại tay sai phản động do tình báo Mỹ xây dựng và chỉ đạo; phát hiện, bóc gỡ nhiều vụ nội gián của địch góp phần bảo vệ nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng như việc bắt Trịnh Kỳ Thiệu ngày 16-29/7/1963; diệt Nguyễn Xuân Chữ - Bộ trưởng chiến tranh tâm lý chính quyền Việt Nam Cộng hòa…, bảo vệ ANTT vùng giải phóng, bảo vệ vững chắc căn cứ kháng chiến và cơ quan quan trọng, các đồng chí lãnh đạo kháng chiến, bảo vệ các chiến dịch quân sự mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, vv…
1.3. Lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
* Giai đoạn 1975-1986
Khi đất nước mới giành được độc lập, thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng CAND đã tích cực tham gia xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, tổ chức quản lý, cải tạo số ngụy quân, ngụy quyền, nhân viên của chế độ cũ, truy quét tàn quân địch, đấu tranh làm tan rã các tổ chức FULRO, bắt hàng ngàn tên, bóc gỡ hàng trăm khung chính quyền ngầm của địch; chủ động đấu tranh bóc gỡ toàn bộ mạng lưới gián điệp, tình báo của đế quốc Mỹ và tay sai cài lại theo kế hoạch hậu chiến; bắt gọn hàng trăm toán gián điệp, biệt kích của các thế lực thù địch từ bên ngoài xâm nhập vào Việt Nam; đập tan âm mưu và hoạt động của bọn phản động lưu vong xâm nhập móc nối với bọn phản động trong nước âm mưu gây bạo loạn, lật đổ chính quyền. Trong 2 năm (1976 - 1977), lực lượng CAND đã đấu tranh, khám phá tổ chức phản động “Mặt trận Quốc gia giải phóng Việt Nam” do Hoàng Cơ Minh đứng đầu, bắt 1.395 tên, trong đó có nhiều thủ lĩnh tự phong, gồm “Quốc trưởng”, “Thủ tướng”, 57 tên chỉ huy cấp quân khu, sư đoàn, 519 tên chỉ huy cấp trung đoàn, tiểu đoàn, thu giữ 147 tấn vũ khí, 16 bộ điện đài, 2 tàu xâm nhập và khám phá 7 tổ chức phản động trong nước; điều tra vụ giết nữ nghệ sỹ Thanh Nga. Trong 4 năm (1981 - 1984), lực lượng Công an đã đấu tranh với tổ chức phản động do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu, bắt 146 tên, thu 143 tấn vũ khí, thu 300 triệu đồng tiền Việt Nam in giả, 16 điện đài, 2 tàu xâm nhập.Từ năm 1997 đến năm 2000, lực lượng Công an đập tan âm mưu khủng bố của tổ chức phản động lưu vong tại Mỹ, do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu, bắt và truy tố 37 tên phản động, thu 10.141 tờ truyền đơn, 47 lá cờ “ba sọc” và nhiều vũ khí, phương tiện hoạt động của chúng.
* Giai đoạn 1986 - nay
Trong sự nghiệp đổi mới, lực lượng CAND đã tham mưu giúp Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai, thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng về công tác Công an trong tình hình mới; tham mưu đề xuất và trực tiếp giải quyết nhiều vụ, việc phức tạp liên quan đến vấn đề tôn giáo, dân tộc, an ninh kinh tế, an ninh nông thôn, an ninh văn hóa - tư tưởng; phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng nghiệp vụ, bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị, văn hoá, xã hội trọng đại của đất nước; chủ động phòng ngừa và liên tục mở nhiều đợt tấn công, truy quét tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức. Tiêu biểu, năm 1996, lực lượng Công an triệt phá băng, nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, do Dương Văn Khánh cầm đầu, truy tố 48 bị can. Hai năm 2001 - 2002, lực lượng Công an triệt phá tổ chức tội phạm đặc biệt nguy hiểm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” do Trương Văn Cam cầm đầu, bắt giữ, xử lý hàng trăm tên tội phạm nguy hiểm. Điều tra, khám phá nhiều vụ án về ma túy lớn, điển hình như đường dây buôn lậu ma túy do Xiêng Phênh - Vũ Xuân Trường cầm đầu; đường dây buôn lậu ma túy do Nguyễn Văn Hải cầm đầu; triệt phá ổ nhóm ma túy tại Lóng Luông (Vân Hồ, Sơn La) do trùm ma túy Nguyễn Thanh Tuân và Nguyễn Văn Thuận cầm đầu (năm 2018). Đấu tranh chống Fulro trên địa bàn Tây Nguyên; giải quyết vụ bạo loạn ở Mường Nhé; khám phá tổ chức phản động “Đảng Việt Nam dân chủ hành động” do Nguyễn Sỹ Bình cầm đầu (1997). Ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn xã hội, từng bước thiết lập lại trật tự an toàn giao thông; làm tốt công tác phòng cháy, chữa cháy; đẩy mạnh công tác đấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, khám phá nhiều vụ án kinh tế lớn, điển hình như: vụ tham nhũng tại Trạm kiểm soát Đồng Bành, Lạng Sơn; vụ tham ô tài sản tại Công ty TAMEXCO; vụ Epco - Minh Phụng; vụ lừa đảo, cố ý làm trái đặc biệt nghiêm trọng, do Lã Thị Kim Oanh cầm đầu... góp phần tạo môi trường chính trị, xã hội ổn định, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế.
Lực lượng Công an nhân dân đã chủ động phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước gắn kết chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp an ninh, quốc phòng với kinh tế, đối ngoại; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân; chủ động tích cực mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với lực lượng An ninh, Cảnh sát nội vụ các nước trên thế giới nhằm trao đổi tin tức, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; góp phần giải quyết các vấn đề quốc tế trong đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, đồng thời tham gia tích cực trong việc làm sâu sắc thêm các mối quan hệ hữu nghị hợp tác quốc tế của đất nước, góp phần nâng cao vai trò, vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Những danh hiệu, phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước dành tặng cho lực lượng Công an nhân dân
75 năm song hành cùng đất nước, ở mỗi giai đoạn cách mạng, lực lượng Công an nhân dân luôn một lòng một dạ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc; không quản ngại khó khăn gian khổ, luôn nêu cao tinh thần tận tụy, sẵn sàng xả thân vì nước, hết lòng hết sức phục vụ Nhân dân. Đã xuất hiện hàng ngàn, hàng vạn tấm gương tập thể, cá nhân tiêu biểu trong lực lượng được Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành khen thưởng. Mỗi thành tích, chiến công, mỗi gương người tốt, việc tốt, mỗi sự cố gắng, tận tụy của cán bộ, chiến sỹ Công an đã góp phần làm cho hòa bình, ổn định của đất nước được giữ vững, kỷ cương, phép nước được nghiêm minh, tài sản, tính mạng và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của Nhân dân được bảo vệ; góp phần vào sự trưởng thành, vững mạnh của của Công an nhân dân và viết tiếp truyền thống vẻ vang của Công an nhân dân Việt Nam.
Những phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước tặng các tập thể, cá nhân lực lượng Công an nhân dân (tính đến tháng 12/2019)
2.1. Huân chương Sao Vàng
- 04 Huân chương Sao Vàng, tặng lực lượng Công an nhân dân (năm 1980, 1985, 2000 và 2015).
- 09 Huân chương Sao Vàng, tặng: lực lượng An ninh nhân dân (năm 1995); lực lượng Tình báo (năm 1995); lực lượng Cảnh sát nhân dân (năm 2003); Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (năm 2003); Tổng cục An ninh (năm 2006); Tổng cục Tình báo (năm 2006); Lực lượng Bảo vệ Chính trị I (năm 2008); Công an Thành phố Hà Nội (năm 2010); Học viện An ninh nhân dân (năm 2011).
- 03 Huân chương Sao Vàng tặng các đồng chí cố Bộ trưởng (đồng chí Phạm Hùng, đồng chí Trần Quốc Hoàn và đồng chí Mai Chí Thọ).
2.2. Huân chương Hồ Chí Minh
- 01 Huân chương Hồ Chí Minh, tặng lực lượng Công an nhân dân (năm 1975).
- 89 Huân chương Hồ Chí Minh tặng Công an các đơn vị, địa phương.
- 10 Huân chương Hồ Chí Minh tặng cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân.
2.3. Các danh hiệu, khen thưởng khác
- 714 lượt tập thể, 408 cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng VTND.
- 01 tập thể và 01 cán bộ CAND được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới
- Hàng ngàn tập thể, cán bộ, chiến sĩ CAND được tặng Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công, Huân chương Chiến công, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Lao động. Hàng vạn tập thể, cán bộ, chiến sĩ CAND được tặng Kỷ niệm chương Bảo vệ an ninh Tổ quốc, Huy chương các loại và Bằng khen của Chính phủ.
Câu 3. Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc được Thủ tướng Chính phủ quyết định vào ngày, tháng, năm nào? Ý nghĩa của Ngày hội toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc? Bạn có kiến nghị, đề xuất gì để phong trào “Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc” được triển khai ngày càng sâu rộng, hiệu quả?
Gợi ý đáp án
1. Ngày 19/8 hàng năm được xác định là Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc
Ra đời trong những ngày sôi sục của Cách mạng Tháng Tám, tuy còn non trẻ song lực lượng Công an nhân dân đã quán triệt và vận dụng sáng tạo các quan điểm, đường lối quần chúng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, dựa vào Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc để tuyên truyền vận động Nhân dân hăng hái tham gia vào các tổ chức như: “Việt Dũng thanh niên đoàn”; “Việt nữ đoàn”; “Cảnh sát danh dự không lương”... sát cánh cùng lực lượng Công an làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, đấu tranh quyết liệt với các thế lực thù địch, các loại phản động và tội phạm, bảo vệ an toàn Lễ tuyên ngôn độc lập (02/9/1945), bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ trước sự đe dọa của thù trong, giặc ngoài trong tình thế đất nước “Ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, lực lượng CAND đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng Quân đội nhân dân, đoàn, hội kháng chiến, tham mưu cho Đảng, Chính phủ chỉ đạo, tổ chức vận động Nhân dân thực hiện cuộc vận động với khẩu hiệu “3 không”, nội dung phù hợp với đặc điểm từng vùng, miền chiến lược: ở căn cứ địa Việt Bắc và vùng tự do là “Không nghe, không biết, không thấy”; ở vùng địch tạm chiếm là “Không làm việc cho địch, không bán lương thực cho địch, không chỉ đường cho địch”, ở Nam Bộ phát động Nhân dân tham gia phong trào “Ngũ gia liên bảo” để bảo vệ an ninh, trật tự thôn, xóm. Các cuộc vận động trên đã nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho Nhân dân, bưng bít tai mắt quân thù và nhanh chóng phát triển ra toàn quốc thành phong trào “Phòng gian bảo mật” với các nội dung cụ thể: Bảo vệ bí mật, tài sản của Đảng, Nhà nước, bảo vệ nội bộ, bảo vệ trị an xã hội. Nhân dân đã giúp đỡ lực lượng Công an đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hoạt động phá hoại của địch và âm mưu “Xứ Nùng”, “Xứ Thái”, “Xứ Mường” tự trị... ở miền núi phía Bắc và lập “Nước Tây kỳ tự trị”, “Nước Nam kỳ tự trị” ở phía Nam... đỉnh cao là góp phần làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (ngày 07/5/1954), buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng bước vào thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Lực lượng Công an đã tham mưu phục vụ Đảng, Chính phủ, Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo tổ chức vận động Nhân dân tích cực tham gia bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Ở miền Bắc, Trung ương phát động phong trào “Bảo vệ trị an” ở ngoài xã hội và mở cuộc vận động “Bảo mật phòng gian” trong các cơ quan, xí nghiệp. Ở miền Nam, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo đẩy mạnh phong trào “Bảo mật phòng gian” ở cả 3 vùng chiến lược và thành lập “Hội đồng bảo vệ an ninh xã, ấp”. Phong trào “Bảo vệ trị an”, “Bảo mật phòng gian” phát triển mạnh mẽ, gắn kết với phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng ở miền Nam.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975), lực lượng Công an đã sớm tham mưu với Đảng, Nhà nước thống nhất các phong trào, cuộc vận động Nhân dân tham gia bảo vệ an ninh, trật tự trong toàn quốc thành phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Đồng thời, Công an các cấp đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội tham mưu phục vụ cấp ủy Đảng, Chính quyền tổ chức, vận động mọi tầng lớp Nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Phong trào đã có bước phát triển khá sâu rộng, với nhiều nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, cụ thể của từng vùng, từng khu vực, từng lĩnh vực, từng địa bàn cụ thể. Nhiều tấm gương tiêu biểu, điển hình tiên tiến được nhân rộng trong toàn quốc. Phong trào đã phát huy năng lực sáng tạo của cơ sở, khơi dậy sức mạnh, tiềm lực to lớn của toàn dân trong phòng ngừa, tấn công, trấn áp tội phạm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để ghi nhận những đóng góp to lớn của Nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, ghi nhớ sự hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sỹ, thương binh và tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự; tiếp tục động viên đông đảo các tầng lớp Nhân dân, đẩy mạnh phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc trong giai đoạn mới, ngày 13/6/2005 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 521/QĐ-TTg về việc lấy ngày 19/8 hàng năm là “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Ngay sau đó, lực lượng CAND đã tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức quán triệt và thực hiện Quyết định trên, với nội dung cơ bản là: Tuyên truyền cho cán bộ, Nhân dân hiểu rõ vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” và vai trò to lớn của Nhân dân trong phong trào đấu tranh phòng chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng các khu dân cư, cơ quan, trường học, đơn vị an toàn…
2. Ý nghĩa
- Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm của các tầng lớp Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.
- Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc là dịp để động viên, khen thưởng và tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa phương, cơ sở.
- Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc góp phần quan trọng, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội. Là ngày hội biểu dương sức mạnh to lớn của quần chúng Nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc; đồng thời là dịp tổng kết, đánh giá phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; kiểm điểm và nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc chỉ đạo xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh.
3. Kiến nghị
Một là, các ngành, các cấp trong cả nước cần tiếp tục triển khai sâu rộng nội dung, ý nghĩa của Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đến các tầng lớp Nhân dân và các cơ quan, doanh nghiệp nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi người dân, mọi tổ chức đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Hai là, đổi mới nội dung tổ chức các hoạt động của Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, gắn chặt với các phong trào hoạt động khác để huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào công tác phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội
Ba là, công tác kiểm tra giám sát và khen thưởng, kỷ luật phải luôn được tiến hành song song nhằm phát hiện ra những thiếu sót, sai lầm để kịp thời sửa chữa, khắc phục.
Bốn là, các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm làm tốt công tác tổng kết kinh nghiệm, nhân điển hình tiên tiến để kịp thời động viên khen thưởng cổ vũ phong trào.
Năm là, lực lượng Công an nhân dân tiếp tục phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt, luôn xác định xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên trong các hoạt động nghiệp vụ của mình.
BAN TỔ CHỨC
Các tin khác
  • Tin ảnh

  • 4739116